Lời nói đầu

TCVN 4787 : 2009 thay thế TCVN 4787 : 2001

TCVN 4787 : 2009 hoàn toàn tương đương với EN 196-7 : 2007 Methods of testing cement – Part 7: Methods of talking and preparing samples of cement.

TCVN 4787 : 2009 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC74 Xi măng – Vôi biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.

Lời giới thiệu

Bộ tiêu chuẩn Châu Âu EN 196 gồm có các phần sau:

EN 196-1:2005 Methods of testing cement – Part 1: Determination of strength (Phương pháp thử xi măng – Phần 1: Xác định độ bền).

EN 196-2:2005 Methods of testing cement – Part 2: Chemical analysis of cement (Phương pháp thử xi măng – Phần 2: Phân tích hóa học xi măng).

EN 196-3:2005+A1:2008 Methods of testing cement – Part 3: Determination of setting times and soundness (Phương pháp thử xi măng – Phần 3: Xác định thời gian đông kết và độ ổn định).

EN 196-5:2005 Methods of testing cement – Part 5: Pozzolanicity test for pozzolanic cement (Phương pháp thử xi măng – Phần 5: Thử nghiệm đặc tính pudolan đối với xi măng pudolan)

EN 196-6:1989 Methods of testing cement – Part 6: Determination of fineness (Phương pháp thử xi măng – Phần 6: Xác định độ mịn).

EN 196-7:2007 Methods of testing cement – Part 7: Methods of talking and preparing samples of cement (Phương pháp thử xi măng – Phần 7: Phương pháp lấy mẫu và chuẩn bị mẫu thử xi măng).

EN 196-8:2003 Methods of testing cement – Part 8: Heat of hydration – Solution method (Phương pháp thử xi măng – Phần 8: Xác định nhiệt thủy hóa bằng phương pháp hòa tan).

EN 196-9:2003 Methods of testing cement – Part 9: Heat of hydration – Semi-adiabatic method (Phương pháp thử xi măng – Phần 9: Xác định nhiệt thủy hóa bằng phương pháp đoạn nhiệt).

EN 196-10:2006 Methods of testing cement – Part 10: Determination of the water-soluble chromium (VI) content of cement (Phương pháp thử xi măng – Phần 10: Xác định thành phần crôm (VI) tan trong nước).

Trong bộ tiêu chuẩn EN trên có hai tiêu chuẩn đã được chấp nhận thành TCVN là EN 196-7:2007 (TCVN 4787:2009) và EN 196-6:1989 (TCVN 4340:2003).

Các TCVN khác về thử nghiệm thí nghiệm xi măng được xây dựng trên cơ sở chấp nhận ISO tương ứng.

XI MĂNG  – PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ CHUẨN BỊ MẪU THỬ

Methods od testing cement – Part 7: Methods of talking and preparing samples of cement.

  1. Phạm vi áp dụng

Tiêu chuẩn này quy định thiết bị sử dụng, phương pháp và quy trình để lấy mẫu xi măng đại diện cho lô hàng thử nghiệm, nhằm đánh giá chất lượng xi măng trước, trong hoặc sau khi giao nhận.

Tiêu chuẩn này chỉ áp dụng đối với các mẫu xi măng sau:

  1. a) theo yêu cầu đánh giá chứng nhận xi măng phù hợp với tiêu chuẩn ở mọi thời điểm; hoặc
  2. b) theo yêu cầu kiểm tra khi giao nhận hoặc một lô xi măng so với tiêu chuẩn, các điều khoản trong hợp đồng hoặc các yêu cầu kỹ thuật theo đơn đặt hàng.

Tiêu chuẩn này cũng áp dụng cho việc lấy mẫu tất cả các loại xi măng quy định trong tiêu chuẩn quốc gia, bao gồm:

  1. a) xi măng chứa trong silô;
  2. b) xi măng đựng trong bao, hộp, thùng hoặc các loại bao chứa khác;
  3. c) xi măng rời được vận chuyển trong các phương tiện đường bộ, trong các vagon tàu hỏa, tàu thủy v.v…

CHÚ THÍCH: Theo thỏa thuận giữa các bên, các yêu cầu của tiêu chuẩn này được áp dụng để kiểm tra nghiệm thu đối với các loại chất kết dính thủy lực mà chưa có tiêu chuẩn.

  1. Tài liệu viện dẫn

Không áp dụng.

  1. Thuật ngữ và định nghĩa

Tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau:

Đơn đặt hàng (order)

Lượng xi măng theo từng yêu cầu đơn lẻ gửi đến nhà sản xuất, phân xưởng sản xuất, kho hàng hoặc trung tâm phân phối. Một đơn đặt hàng có thể gồm một hoặc nhiều vận đơn phân bổ trong một khoảng thời gian.

Đợt giao hàng (consignment)

Lượng xi măng do một nhà sản xuất , phân xưởng sản xuất, kho hàng hoặc trung tâm phân phối, giao theo đơn đặt hàng tại một thời điểm xác định. Một đợt giao hàng có thể bao gồm một hoặc nhiều lô hàng.

(lot)

Lượng xi măng được sản xuất trong cùng một điều kiện được coi là đồng nhất.

CHÚ THÍCH: Sau khi thử nghiệm theo quy định, lượng xi măng của một lô được coi là phù hợp hoặc không phù hợp với tiêu chuẩn, với các điều khoản của một hợp đồng hoặc với yêu cầu kỹ thuật theo đơn đặt hàng.

Mẫu đơn (increment)

Lượng xi măng được lấy từng lần một bằng dụng cụ lấy mẫu.

Mẫu (sample)

Lượng xi măng được lấy ngẫu nhiên hoặc theo một kế hoạch lấy mẫu, từ một lượng xi măng lớn (chứa trong silô, kho xi măng bao, vagon, xe tải v.v…) hoặc từ một lô xác định dự kiến sẽ thử nghiệm. Một mẫu có thể gồm một hoặc nhiều mẫu đơn.

Mẫu cục bộ (spot sample)

Mẫu được lấy trong khoảng thời gian ngắn và tại một điểm cố định từ một lượng xi măng lớn hơn, dự kiến sẽ thử nghiệm. Mẫu cục bộ có thể nhận được từ tổ hợp của một hoặc nhiều mẫu đơn lấy liên tiếp.

Mẫu gộp (composite sample)

Hỗn hợp đồng nhất của các mẫu cục bộ được lấy:

  1. a) tại nhiều điểm khác nhau; hoặc
  2. b) ở nhiều thời điểm khác nhau;

từ một lượng lớn xi măng như nhau; nhận được bằng cách trộn đều các mẫu cục bộ và được rút gọn, nếu cần.

Mẫu phòng thử nghiệm (laboratory sample)

Mẫu nhận được sau khi trộn kỹ và rút gọn, nếu cần, từ mẫu lớn hơn (mẫu cục bộ hoặc mẫu gộp) và dự định sẽ tiến hành các phép thử trong phòng thử nghiệm.

Mẫu để thử nghiệm lại (sample for retest)

Mẫu được giữ để có thể thử nghiệm tiếp trong trường hợp kết quả thử trên mẫu phòng thử nghiệm có nghi ngờ hoặc tranh chấp.

Mẫu lưu (retained sample)

Mẫu được lấy một cách hệ thống từ các nhà cung cấp thường xuyên (ví dụ cho một công trình lớn), có mặt của các bên liên quan, nếu cần, và mẫu này được lưu để thử nghiệm trong trường hợp có nghi ngờ, tranh chấp hoặc có vấn đề phát sinh.

CHÚ THÍCH: Các định nghĩa 3.1, 3.2, 3.3 và 3.10 chỉ có ý nghĩa trong trường hợp kiểm tra khi giao nhận hàng của nhà cung cấp.

  1. Quy định chung

Mục đích

Mục đích của việc lấy mẫu là để nhận được từ một lượng xi măng lớn (chứa trong silô, kho xi măng bao, xe tải v.v… hoặc từ một lô xác định) một hoặc nhiều lượng nhỏ hơn mà đại diện của các bên liên quan xác nhận là đại diện cho lượng xi măng sẽ được đánh giá chất lượng.

Thiết bị, dụng cụ

Các thiết bị sử dụng, phương pháp tiến hành và các điều cần chú ý có thể khác nhau tùy theo cách lắp đặt thiết bị và tình huống lấy mẫu.

Đại diện

Trong trường hợp giao nhận từ nhà cung cấp, việc lấy mẫu được tiến hành với sự có mặt của đại diện nhà sản xuất (hoặc bên bán) và khách hàng (hoặc bên mua). Nếu vắng mặt một trong các đại diện, mặc dù không cản trở việc lấy mẫu nhưng phải được ghi vào biên bản lấy mẫu (xem Điều 10).

Thông thường mẫu được lấy trước hoặc trong khi chất hàng hoặc dỡ hàng. Tuy nhiên, nếu cần thì có thể lấy mẫu sau khi chất hàng hoặc dỡ hàng nhưng không chậm hơn 24h. Trong trường hợp lấy mẫu sau khi chất hàng hoặc dỡ hàng thì kết quả kiểm tra phải được báo cáo rõ.

CHÚ THÍCH: Vì nhiều lý do khác nhau, nếu lấy mẫu chậm trễ thì xi măng để thử không thể đại diện cho sản phẩm tại thời điểm chất hàng hoặc dỡ hàng.

Trong mọi trường hợp, thời gian lấy mẫu phải được ghi lại trong biên bản lấy mẫu (xem Điều 10). Nếu mẫu được lấy sau khi chất hàng hoặc dỡ hàng thì phải nêu ra ngay trong điều khoản đầu tiên của biên bản lấy mẫu.

>> Xem đầy đủ TCVN 4787 : 2009 tại đây